12/06/2020 | 219 |
0 Đánh giá

Khi có người thân qua đời, chúng ta thường nhờ các vị sư tăng trong chùa làm lễ cầu siêu. Vậy cầu siêu là gì ? Phải làm như thế nào cho đúng Chánh Pháp Như Lai ?

Phong Thủy Yên Minh tập hợp khai thị hướng dẫn về cầu siêu của các vị Đại Sư Phật giáo nổi tiếng như LP Simpaleee, Chusang Rinpoche, Gosok Rinpoche để mọi người rộng đường tham khảo.  

Hy vọng mọi người có thể ứng dụng khai thị hướng dẫn cầu siêu này vào thực tế như một loại văn chiêu hồn để đạt lợi lạc cao nhất cho người đã mất !

Thượng cúng Phật, 

Trung cúng Thánh,

Hạ cúng Thập Nhị loại cô hồn, chúng sanh

 

Ai đến đây trước sau ngồi lại

Hỏi lấy lòng của cải bao nhiêu ?

Phép Thiên biến ít thành nhiều

Ơn Trên, Tôn Giả chia đều chúng sanh

 

Về Cực Lạc, siêu sanh giải thoát

Cõi Liên đài, nối gót lăn tay 

Phù hộ cho tín chủ tôi từ nay 

Niên niên phú quý, ngày ngày vinh hoa

Những khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ cúng lễ tâm linh của Phong Thủy Yên Minh hẳn đã từng đọc qua những câu thơ đậm tính nhân văn có tác dụng cầu siêu vô cùng hiệu quả này trong các lễ cúng tại nhà hay công ty trong các lễ cúng như lễ nhập trạch, lễ động thổ, lễ kích hoạt tài lộc, lễ tẩy tịnh...

Cúng cầu siêu căn hộ Mizuki Park, Quận  Bình Chánh, TP.HCM

Cúng cầu siêu căn hộ Mizuki Park, Quận  Bình Chánh, TP.HCM

Chúng là tinh túy được trích từ Văn tế thập loại chúng sinh (còn được gọi là Văn chiêu hồn hay Văn tế chiêu hồn) là một bài văn tế bằng chữ Nôm soạn vào đầu thế kỷ 19, một trong những áng thơ văn xuất sắc của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du trước khi Ngài sáng tác ra Đại thi phẩm lừng danh thế giới: Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh 斷腸新聲).

Nhà thơ đã sáng tác bài Văn tế chiêu hồn này sau khi chứng kiến những hậu quả mà mùa dịch khủng khiếp đã gây ra khiến cho hàng triệu người chết. Khắp một miền núi sông là khung cảnh hoang tàn, âm khí nặng nề. Tại các chùa chiền đều lập đàn để cầu siêu cho các linh hồn đã bỏ mạng vì bệnh dịch.

Văn tế thập loại chúng sinh là một bài văn khấn tế đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn. Chúng sinh ai cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót thương tất cả !

10. Có khôn thiêng phảng phất u minh,

Thương thay thập loại chúng sinh,

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,

 

15. Còn chi ai quí ai hèn,

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,

Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi,

Muôn nhờ đức Phật từ bi,

 

20. Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông,

Nói chi những buổi tranh hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

 

Văn tế thập loại chúng sinh

Văn tế thập loại chúng sinh - Nguyễn Du

Nhờ vận dụng thể thơ song thất lục bát khiến vần điệu Văn tế Chiêu hồn linh hoạt, truyền cảm,  ngập tình yêu thương, thông cảm, có tác dụng khơi dậy lòng trắc ẩn từ phía người đọc, người nghe ... Ngoài một vài phương ngữ và điển tích nhà Phật ít quen thuộc không đáng kể, nói chung bài văn dễ hiểu, dễ cảm thụ bởi giọng thơ cuộn chảy theo những biến tấu bất ngờ của nhịp câu song thất. 

35. Một phen thay đổi sơn hà,

Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

Phận đã đành trâm gãy bình rơi,

Khi sao đông đúc vui cười,

 

40. Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói,

Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

Thương thay chân yếu tay mềm

Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

 

45. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngọn bút son thác sống ở tay,

Kinh luân găm một túi đầy,

Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

 

50. Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,

Nghìn vàng khôn đổi được mình,

Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

 

55. Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

Kìa những kẻ bài binh bố trận

Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

 

60. Dãi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc,

Bãi sa trường thịt nát máu rơi,

Bơ vơ góc bể chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

 

65. Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau,

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

 

70. Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù du dẫu có như không,

 

75. Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm,

Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm,

 

Niệm Phật Di Đà cầu siêu Cực Lạc

Niệm Phật Di Đà cầu siêu Cực Lạc

 

115. Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

Thương thay cũng một kiếp người,

 

120. Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

Gửi mình vào chiếu rách một manh.

Nắm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

 

125. Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.

Lấy ai bồng bế vào ra,

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

 

130. Cũng có người sẩy cối sa cây,

Có người leo giếng đứt dây,

Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái

Người thì sa nanh sói ngà voi,

 

135. Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

 

140. Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây,

Hoặc là bụi cỏ bóng cây,

Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

 

Đại nguyện cầu siêu độ của Địa tạng vương Bồ Tát

Đại nguyện cầu siêu độ của Địa tạng vương Bồ Tát

 

145. Hoặc là nương thần từ, Phật tự

Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

Hoặc là trong quãng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,

 

150. Gan héo khô dạ rét căm căm,

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,

 

155. Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,

Phóng hào quang cứu khổ độ u,

Rắp hoà tứ hải quần chu,

 

160. Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

 

Cầu siêu cảm ứng Liên trì Hải Hội Phật Bồ Tát

Cầu siêu cảm ứng Liên trì Hải Hội Phật Bồ Tát

 

165. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,

Mười loài là những loài nào?

Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,

 

170. Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát cháo nén nhang,

 

175. Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

 

180. Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ

Chớ ngại rằng có có không không.

Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.”

 

Trong phạm vi có hạn của bài viết, tác giả chỉ phân tích hướng dẫn cầu siêu theo quan điểm của Phật giáo.

TAM GIỚI SÁU CÕI LÀ GÌ ?

Tam Giới bao gồm: 

1. Dục giới (欲 界 kāmaloka, Kamavaca) là cõi giới gồm 6 cõi (Lục đạo luân hồi):

+ Địa ngục (地獄; naraka)

+ Ngạ quỷ (餓鬼, sa. preta Quỷ đói)

+ Súc sinh (畜生, sa. paśu)

+ A-tu-la (阿修羅; asura)

+ Người (人世, sa. nāra)

+ Trời (六欲天 Lục dục thiên).

Sáu cõi luân hồi

Sáu cõi luân hồi

Đặc trưng của cõi giới này là chúng sinh rất nhiều ham muốn về tính dục, ăn uống, ngủ nghỉ, hưởng lạc thú.

Trên cõi thế gian, người và súc sinh ở chung trong 4 châu lục là Đông Thắng Thần Châu, Bắc Câu Lô Châu, Nam Thiệm Bộ Châu (còn gọi là Diêm Phù Đề) và Tây Ngưu Hóa Châu. Ở giữa các châu là núi Tu di. Đó là quan niệm địa lý thời Đức Phật.

+ Đông Thắng Thần Châu là Trung Quốc.

+ Bắc Câu Lư Châu là Âu Châu, Nga, Nhật Bản, Bắc Mỹ.

+ Nam Thiệm Bộ Châu là Nam Á.

+ Tây Ngưu Hóa Châu là Đông Nam Á.

+ Núi Tu Di là dãy Hy Mã Lạp Sơn.

Các hồn ma và quỷ đói thì ở trong Địa ngục, là chúng sinh có nhiều tội lỗi nghiệp chướng nên phải chịu hình phạt khắc nghiệt ở nơi tăm tối đầy cảnh ghê rợn.

Chúng sinh ở thế giới cao hơn cõi người là Cõi trời gồm 6 tầng gọi là Lục Dục Thiên bao gồm :

+ Tứ thiên vương (四天王, sa. cāturmahārājika))

+ Đao lợi (忉利 hay Tam thập tam thiên 三十三天, sa. trayastriṃśa tức 33 cõi trời )

+ Tu Dạ Ma Thiên (須夜摩天, sa. suyāma)

+ Ðâu Suất Thiên (兜率天, sa. tuṣita)

+ Hóa Lạc Thiên (化樂天, sa. nirmāṇarati)

+ Tha Hóa Tự Tại Thiên (他化自在天, sa. paranirmitavaśavarti).

Nói chung chúng sinh ở cõi trời có nhiều phước báo nên có thọ mạng lâu dài, hưởng nhiều lạc thú. Đó là cõi Tiên theo quan niệm của người Trung Hoa.

 

2. Sắc giới (色界, sa. rūpaloka, rūpadhātu Rupâvacara) là cõi giới của loại chúng sinh không còn nhiều ham muốn, khá thanh tịnh, không còn xác thân vật chất nhưng vẫn còn hình sắc bóng dáng có thể nhìn thấy và nghe thấy được. Sắc giới là thế giới ảo không trọng lượng nhưng vẫn thấy và nghe được, giống như sóng điện từ mang tín hiệu âm thanh và hình ảnh, ánh sáng, tín hiệu kỹ thuật số. Đó là các bit thông tin không trọng lượng nhưng vẫn còn số lượng, một loại vật chất rất nhẹ không thể cân được nhưng vẫn đo đếm được.

Sắc giới có 5 cảnh giới là: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ ThiềnTịnh Phạm Thiên. Mỗi cảnh giới cũng có nhiều tầng bậc, càng cao càng thanh tịnh, tất cả có 20 bậc.

Lộ trình thiền định Phật giáo

Lộ trình thiền định Phật giáo


3. Vô Sắc giới (無色界, sa. arūpaloka, arūpadhātu Arupuvacara) là cõi giới vô hình vô tướng, không còn sắc, thanh hương, vị, xúc (cảm giác về hình dáng màu sắc, âm thanh, mùi, vị, tiếp xúc). Chúng sinh ở cõi này chỉ còn ý thức, không còn thân thể hình bóng gì cả. Họ cũng không dùng âm thanh ngôn ngữ để giao tiếp vì họ đã hòa lẫn vào nhau, không cần nói, không cần giao tiếp cũng hiểu nhau.

Vô Sắc giới có 4 cảnh giới là:

+ Không vô biên xứ (空無邊處, sa. ākāśanantyāyatana Akàsànantyàyatana) là khoảng trống không vô tận

+ Thức vô biên xứ (識無邊處, sa. vijñānanantyāyatana Vijnànanantyàyatana) là sự hiểu biết vô cùng tận

+ Vô sở hữu xứ (無所有處, sa. ākiṃcanyāyatana, Akincanyàyatana) là cõi giới không có gì cả vì đã biết tất  cả đều là huyễn ảo do tâm thức tạo ra

+ Phi tưởng phi phi tưởng xứ (非想非非想處,  sa. naivasaṃjñā-nāsaṃjñāyatana, Naisvasàmjnànasamjnàyatana) là cõi giới vô định, không có tư duy mà cũng không phải không tư duy, không phải ý thức cũng không phải vô thức.

Ba giới Sáu cõi

Ba giới Sáu cõi & Niết Bàn

VÌ  SAO CẦN PHẢI CẦU SIÊU ?

- Phật Giáo có câu "Âm siêu Dương Thới". Nếu người Âm không được siêu thoát sẽ ảnh hưởng xấu đến người Dương, bất kể là ruột rà thân sơ hay xa lạ không hề quen biết.

- Vì lòng từ bi với những người thân thiết, ruột thịt trong gia đình. Khi biết hay quán chiếu người thân mất đi sẽ bị đọa vào 3 cõi dưới là Địa Ngục (do nghiệp Sân), Ngạ Quỷ (do nghiệp Tham), Súc Sanh (do nghiệp Si) chắc chắn chúng ta sẽ khởi lòng thương xót, mong muốn họ tái sanh hay chuyển lên những cảnh giới tốt đẹp hơn. 

AI LÀ ĐỐI TƯỢNG CẦN PHẢI CẦU SIÊU ?

- Ba cõi trên là Trời, Atula, Người là những đối tượng có phước báu, vì vậy không cần phải cầu siêu, có cầu họ cũng chẳng nhận được.  

- Súc sanh đã tái sanh làm thân súc vật thọ khổ, vì vậy cầu siêu cho đối tượng này cũng vô ích. 

- Địa Ngục thường là đối tượng chịu những lỗi lầm trầm trọng, có cầu siêu cũng rất khó siêu thoát như tội Ngũ nghịch (Ngũ vô gián nghiệp) là năm tội nặng nhất dẫn đến quả báo ngay lập tức, trong kiếp này sau khi chết sa đoạ Địa Ngục, cụ thể là:

  1. Giết cha (sát phụ, sa. pitṛghāta);
  2. Giết mẹ (sát mẫu, sa. mātṛghāta);
  3. Giết một vị A-la-hán (sát A-la-hán; sa. arhadvadha);
  4. Làm thân Đức Phật chảy máu (xuất Phật thân huyết, sa. tathāgatasyāntike duṣṭacittarudhirotpadana)
  5. Chia rẽ Tăng-già (Phá hoà hợp tăng, sa. saṅghabheda).

- Cô hồn, Ngạ Quỷ, Vãng Vong: là những đối tượng chết bất đắc kỳ tử, chết do tai nạn giao thông, chết yểu mệnh, chết do nghiệp tham lam, bỏn xẻn, ki bo khi sống mà hóa thành Quỷ Đói. Vì những đối tượng này ảnh hưởng mạnh đến người Dương thế do đó cần thiết phải cầu siêu để cho họ siêu thoát, hay ít nhất là không tác động xấu đến cõi trần thế. Có thể nói đây là đối tượng cầu siêu chính yếu. 

CÓ THỂ CẦU SIÊU ĐƯỢC KHÔNG ?

TỰ LỰC

Trong Tương ưng bộ kinh, có 2 mẩu chuyện nói về hiệu lực của cầu siêu. Đó là khi Đức Phật hướng dẫn vị Bà La Môn, hay cậu bé mất cha ném tảng đá đá lớn và bơ (dầu) xuống hồ nước sâu. Bơ thì nổi, tảng đá thì chìm, Đức Phật dạy cũng như vậy, sau khi mất đi thì người mất do nghiệp nhẹ mà được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này, nếu nặng thì sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục ngay tức thì, có cầu nguyện cũng chẳng giúp ích gì.

Nếu người làm tội thì phải chịu quả khổ, bằng làm lành thì được an vui trong đời này và đời vị lai. Đúng theo lời Phật trong kinh Pháp Cú: Suddhi Asuddhi Phccattam Annonannam Visokhaye. Nghĩa là Người làm cho mình trong sạch thì tự mình trong sạch, người làm tội thì mình bị nhơ đục, người này không thể làm cho người khác trong sạch hay nhơ đục được

Theo đó Chánh Pháp khuyên nhủ con người phải tự tu và tự giải thoát lấy bản thân mình bởi không ai có thể cứu cho mình được

THA LỰC

Trong kinh Mi Tiên vấn đáp (Milindapanha) nói về Tương quan phước và tội (số 71, bản dịch HT. Giới Nghiêm): 

Đức vua Di Lan Đà (Minida) hỏi tỳ kheo Na Tiên (Nàgasena):

- Trong hàng ngũ Sa-môn của Đại đức, có người thuyết rằng, có kẻ trọn đời làm ác nhưng đến khi lâm tử, họ tưởng nghĩ đến Phật, ân đức hoặc tướng hảo quang minh sáng chói của Ngài thì có thể sanh lên cõi trời. Điều ấy thật khó tin! Lại nữa, các vị ấy còn thuyết rằng, người nào đã lỡ tạo nghiệp sát sanh, không cần phải nhiều lần, dù chỉ một lần, người ấy phải bị đọa địa ngục chẳng sai. Điều ấy lại càng không thể tin được!

- Tâu Đại vương! Đại vương nghĩ thế nào, nếu có người ném một viên đá nhỏ độ bằng hột bắp hay hột tiêu xuống mặt nước, viên đá ấy sẽ nổi hay chìm?

- Chắc chắn phải chìm.

- Nếu có một người chất vài trăm viên đá lớn vào một chiếc ghe rất to, có sức chở rất lớn - thì vài trăm viên đá ấy có chìm không, Đại vương?

- Thưa không.

- Cũng vậy là tội và phước cùng sự tương quan giữa phước và tội, tâu Đại vương! Một viên đá dù bé như hạt tiêu nó vẫn bị chìm xuống nước. Tương tự vậy, có người làm việc ác, dù chỉ một lần, như giết sanh mạng loài hữu tình; thì ác nghiệp ấy có sức nặng đưa chúng sanh đầu thai vào các cảnh giới đau khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la.

Vài trăm viên đá lớn mà không chìm là nhờ có ghe lớn chở. Cũng giống thế, một người làm việc ác trọn đời nhưng nhờ tưởng nghĩ đến ân đức của Phật, tâm người ấy trú vững chắc và hoan hỷ ở trong ân đức ấy; nhờ vậy, chính nhờ thiện tâm nâng đỡ như chiếc ghe lớn, người ấy được sanh thiên cũng là điều hiển nhiên thôi.

- Trẫm đã hiểu.

- Lại nữa, ác nghiệp nặng thường đưa chúng sanh đi xuống, thiện nghiệp nhẹ thường đưa chúng sanh đi lên. Tuy nhiên, nếu đã lỡ tạo ác nghiệp rồi thì phải siêng năng, tinh tấn làm việc lành; chính nhờ việc lành, nhờ thiện nghiệp, nó có khả năng nâng đỡ cho tất cả chúng sanh.

Đức Thế Tôn còn dạy rằng: “Ghe, thuyền hằng chuyên chở đồ đạc qua sông lớn, qua biển lớn; nhưng nếu ghe, thuyền ấy chở quá mức độ cho phép, ghe thuyền ấy sẽ bị chìm. Cũng vậy, thiện nghiệp nâng đỡ ác nghiệp, nhưng nếu ác nghiệp quá nặng, thiện nghiệp cũng sẽ bị chìm theo!

Lại nữa, ghe thuyền ấy phải được vững chắc, kiên cố không bị rò rỉ; nếu bị rò rỉ, thấm nước thì phải tát cạn, phải bịt chặt các lỗ rò rỉ đi. Cũng vậy, đừng để ác nghiệp xen vào, nếu ác nghiệp đã rò rỉ vào tâm thì phải bịt chặt lại, tát cạn lần hồi ác nghiệp ấy đi. Nhờ vậy ghe, thuyền thiện pháp kia sẽ đến được bến bờ an vui nhất định".

CẦU SIÊU ĐẠT HIỆU QUẢ KHI NÀO ?

Từ những ví dụ cụ thể được trích dẫn trong Kinh điển Phật giáo chính thống khai thị hướng dẫn về cầu siêu ở trên, có thể kết luận cầu siêu chỉ đạt hiệu quả khi:

1. Người có giới đức thanh tịnh cầu nguyện cho người có tâm thức thanh tịnh

Khi đó nhờ năng lực tương tác, cộng hưởng, giao thoa giữa thức thanh tịnh nên tác dụng của việc cầu siêu chắc chắn được thành tựu. 

Ví dụ: Ngài Xá Lợi Phất cầu nguyện cho trưởng giả Cấp Cô Độc, Đức Phật cầu nguyện cho vua cha Tịnh Phạn. 

2. Người có giới đức thanh tịnh cầu nguyện cho người có tâm thức không thanh tịnh

Trường hợp chúng sinh đã bị tập khí phiền não sai sử trong suốt thời gian khi còn sống. Khi lâm chung bị rơi vào các cảnh giới tối tăm để trả nghiệp.

Ví dụ: ngài Mục Kiền Liên cầu nguyện cho mẹ là Thanh Đề.

Do ác nghiệp của bà Thanh Đề quá nặng nên phải cần năng lực thanh tịnh của những người có giới đức rất lớn mới đủ sức chuyển hóa phần tâm thức nhiễm ô do tập khí nhiều đời . Chính vì vậy Đức Phật dạy Mục Kiền Liên phải nhờ đến công phu tu tập Giới - Định - Huệ của chư Tăng trong mười phương mới giúp được mẹ mình chuyển hóa tâm thức sanh lên cõi Thiên thù thắng.

Mục Kiền Liên nương nhờ thập phương tăng cầu siêu cho mẹ

Mục Kiền Liên nương nhờ thập phương tăng cầu siêu cho mẹ

Cầu siêu khó đạt hiệu quả khi:

1. Người có giới đức không thanh tịnh cầu nguyện cho người có tâm thức thanh tịnh

Ví dụ Đề Bà Đạt Đa vì muốn lấy lòng A Xà Thế, nên khi vua Tần Bà Sa La băng hà, Đề Bà Đạt Đa đến thăm và cầu nguyện, nhưng chỉ là hình thức chứ không có kết quả gì. Vì lúc đó Đề Bà Đạt Đa thì đầy tham vọng nên tâm hoàn toàn bị nhiễm ô.

Mặt khác vua Tần Bà Sa La sau khi thấy được ác tâm của con mình là A Xà Thế nên đã có sự chuyển tâm, nhân đó Đức Phật mới chỉ cho nghiệp báo từ nhiều đời trước. Vua Tần Bà Sa La từ đó càng chuyên tâm hướng về Tam bảo.

Vì vậy sự cầu nguyện của Đề Bà Đạt Đa chỉ là hình thức để tranh thủ A Xà Thế, còn kết quả tốt đẹp có được chính là do sự chuyển hóa tâm thức mạnh mẽ lúc cận tử của vua Tần Bà Sa La.

2. Người có giới đức không thanh tịnh cầu nguyện cho người có tâm thức không thanh tịnh

Đây là trường hợp như câu chuyện trong Tương ưng bộ kinh (Sayutta Nikāya) đã dẫn ở trên.

Người đứng ra cầu nguyện chưa có đủ giới đức thanh tịnh, và phương thức cầu nguyện cũng chưa đạt đến mức thành tâm của số đông. Còn đối tượng được cầu nguyện, theo trong kinh thì: “...Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiếndo đó chắc chắn việc cầu siêu sẽ không thành tựu !

VÌ SAO CẦN PHẢI SIÊU SANH TỊNH ĐỘ ?

Tịnh độ là một thế giới mà chư Phật tạo ra bằng nguyện lực của mình và công đức tu tập tích lũy nhiều đời nhiều kiếp.

Cõi tịnh độ Tây Phương Cực Lạc thế giới của Đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát Thượng thủ Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát được xem là thù thắng cho chúng sinh trong cõi Ta Bà (thế giới chúng ta đang sống) vì ba vị này (Tây Phương Tam Thánh) rất có nhân duyên với con người chúng ta theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca. Vì vậy rất nhiều Kinh điển Phật giáo nhất là của các phái Tịnh Độ, Mật Tông đều khuyên chúng ta hồi hướng công đức có được để sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc khi mệnh chung.

Vẫn có những cõi tịnh độ của các Đức Phật khác như Tịnh Lưu Ly Đông Phương của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Cõi núi huy hoàng màu đồng đỏ của Đức Liên Hoa Sanh Đại Sư, Cõi Tịnh Độ Diệu Hỷ của Đức A Súc Bệ Phật (Bất Động Như Lai)... tuy nhiên để đến được các cõi giới này cần có nhân duyên và công đức mạnh mẽ hơn rất nhiều vậy. 

Tuy nhiên Cõi tịnh độ không phải là điểm đến cuối cùng, nó được xem là một môi trường lý tưởng để tu học cho đến khi đạt thành tựu Thánh quả, sau đó lại tái sanh về các cõi dưới để giáo hóa chúng sanh cho đến khi trọn thành Phật đạo.

Nếu tái sanh làm người có thể do Bát khổ (Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Cầu bất đắc khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tắng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ) mà thối chí không tu hành được, vì vậy chư Phật đã phương tiện tạo nên một cõi giới lý tưởng như một trường Đại học để mọi người có thể chuyên tu, từ đó dễ dàng đạt được quả Thánh trong một thời gian ngắn chứ không phải trải qua nhiều a tăng kỳ kiếp.

Mục tiêu cuối cùng của lộ trình tu học chính là Niết Bàn, sự dập tắt phiền não tham sân si hoàn toàn, không còn tái sanh ba cõi sáu đường nữa !

 PHẢI CẦU SIÊU CHO AI ?

Thoạt nghe, ai cũng tưởng đây là câu hỏi ngớ ngẩn vì cầu siêu cho người đã mất chứ cho ai ?!! 

Thực chất nếu người đã mất do phước báu công đức tích lũy được mà sanh lên ba cõi trên thì việc cầu siêu xem như vô nghĩa. Bằng họ bị đọa vào địa ngục hay súc sanh thì cầu siêu cũng chả ích lợi gì ! 

Vì vậy mục đích cầu siêu chính là hỗ trợ cho hương linh cửu huyền thất tổ hay cô hồn ngạ quỷ vãng vong do nghiệp xấu mà phải chịu cảnh đói khát khổ sở đau đớn nhưng chẳng thể thọ thực được chuyển lên 3 cõi trên, thọ hưởng hạnh phúc an lạc. 

NÊN CẦU SIÊU NHƯ THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT LỢI ÍCH THÙ THẮNG ?

- Phải có động cơ thanh tịnh, vì lòng từ bi muốn giúp đỡ chúng sanh ở dạng cô hồn ngạ quỷ vất vơ vất vưởng chuyển hóa cảnh giới, siêu sanh tịnh độ.

- Về phần tự lực, việc cầu siêu có thể thực hiện hằng ngày chứ không phải đợi đến rằm tháng 7 hay ngày vía, ngày lễ, ngày giỗ mới thực hiện. Sau mỗi thời kinh chú, chỉ cần hồi hướng công đức trì kinh tụng chú cho cô hồn ngạ quỷ, cửu huyền thất tổ nương nhờ mà siêu sanh tịnh độ là được. 

- Về phần tha lực, có thể nương nhờ công đức của Tăng Bảo, đạo hạnh của các vị Đại sư Phật giáo hỗ trợ sẽ dễ đạt được thành tựu thù thắng, nhất là khi có các pháp hội cầu siêu hay sự góp mặt của nhiều vị Đại sư Phật giáo đức cao vọng trọng. 

LÀM SAO ĐỂ BIẾT CẦU SIÊU THÀNH CÔNG ?  

- Nếu cô hồn ngạ quỷ hay quấy phá nhà hay đất ở, có thể dùng các công cụ đo đạc kiểm tra vong linh (Ghost Hunter) để kiểm chứng. Nếu máy báo không còn vong, đèn chỉ tín hiệu tốt có thể nói công tác cầu siêu đã đạt hiệu quả tương đối tốt. 

- Người theo Pháp Môn Tịnh Độ khi mất đi thường được đại chúng hộ niệm liên tục 3 ngày. Trong thời gian đó hay sau đó có thể người mất hiện ra trong giấc mơ của người nhà hay của những người hộ niệm cho thấy những tín hiệu tốt đẹp. Đó có thể là dấu hiệu thành công. 

- Tham vấn các vị Đại sư đã khai mở Thiên Nhãn. Được biết những vị Đại sư cấp cao có tu tập  pháp môn Chuyển Di Tâm Thức (Phowa) như ngài Ayang Rinpoche có thể cho biết cảnh giới của người mất, tuy nhiên cơ hội để được một vị Đạo sư tôn quý như Ngài giải đáp thắc mắc rất khó ! 

QUAN ĐIỂM CỦA CÁC VỊ ĐẠI SƯ VỀ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC CẦU SIÊU 

+ Đại sư Mật tông Tây Tạng Gosok Rinpoche & Chusang Rinpoche: dù có trí tuệ thậm thâm, năng lực thấu suốt quá khứ vị lai, các Ngài vẫn từ chối trả lời câu hỏi về cảnh giới của người đã mất sau khi đã cầu siêu. Nguyên do là vì mục đích trọng yếu của các Ngài là tu tuệ, muốn chúng sanh phấn đấu tu tập phát triển tuệ giác giải thoát khổ đau chứ không để phân tâm, xao lãng bởi những thứ không cần thiết không liên quan đến việc giải thoát.  

+ Đại sư Thái Lan 136 tuổi LP Simpalee: cũng như vậy, khi được hỏi về dấu hiệu thành tựu của việc cầu siêu, Ngài không trả lời mà chỉ dạy người mất có được siêu hay không là nhờ công đức tu tập của Cao tăng. Nhờ vào năng lực của chú ngữ, nguyện lực, sự tin tưởng đối với Cao Tăng (Tam Bảo) mà người đó có thể về với ông Phật (nguyên văn lời Ngài nói).

Có thể nói người Thái hoàn toàn tin tưởng vào các vị Đại sư đức cao vọng trọng, không hề đặt câu hỏi liệu việc cầu siêu của các Ngài có kết quả hay không mà chỉ chú trọng làm nhiều việc công đức phước thiện, cúng dường tăng bảo, phóng sanh, giúp người cùng khổ để có thể đạt hiệu quả "Âm siêu Dương thới" một cách viên mãn ! Âu đó cũng chính là cách thức cầu siêu thiết thực nhất vậy ! 

"Chết an bình, tái sanh hỷ lạc". Ai trong chúng ta cũng mong có cái chết bình an, được sanh lên 3 cõi tốt, không bị đọa vào 3 cõi dưới thế nên cách thức cầu siêu đúng đắn cho bản thân ngay khi còn sống chính là phải tự giác ngày càng xa rời tam độc Tham, Sân, Si, phát triển thật nhiều Giới, Định, Tuệ, siêng làm các việc thiện, xa rời các việc ác. Có như vậy chúng ta mới có thể nở nụ cười viên mãn khi nhắm mắt xuôi tay, không uổng phí sống một kiếp người quý báu !

Duyên Việt

Duyên Việt

Chu Thái Dương (周寀洋)

Điều hành Phong Thủy Yên Minh

Chuyên gia tư vấn Bát tự Phong Thủy Kỳ Môn Độn Giáp


(*) Xem thêm

Bình luận